tin tức

Bentonit là một loại khoáng chất phi kim loại chủ yếu bao gồm montmorillonit. Cấu trúc của montmorillonit là cấu trúc tinh thể kiểu 2:1, bao gồm hai tứ diện silica kẹp giữa một lớp bát diện oxit nhôm. Do cấu trúc lớp được hình thành bởi các tế bào tinh thể montmorillonit, nên có một số cation nhất định, chẳng hạn như Cu, Mg, Na, K, v.v., và sự tương tác của chúng với các tế bào tinh thể montmorillonit rất không ổn định, dễ dàng bị trao đổi bởi các cation khác, do đó nó có tính chất trao đổi ion tốt. Ở nước ngoài, nó đã được ứng dụng trong hơn 100 bộ phận thuộc 24 lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, với hơn 300 sản phẩm, vì vậy người ta gọi nó là "đất đa năng".

Đất sét nung (bentonite) còn được biết đến với tên gọi bentonite, bentonite, hoặc bentonite. Trung Quốc có lịch sử lâu đời trong việc phát triển và sử dụng bentonite, ban đầu nó chỉ được dùng làm chất tẩy rửa. Hàng trăm năm trước, ở khu vực Nhân Châu, Tứ Xuyên đã có các mỏ lộ thiên, và người dân địa phương gọi bentonite là bột đất sét. Nó được sử dụng rộng rãi nhưng chỉ có lịch sử hơn một trăm năm. Phát hiện sớm nhất ở Hoa Kỳ là trong các tầng địa chất cổ ở Wyoming, nơi đất sét màu vàng lục, có thể nở thành dạng bột nhão sau khi thêm nước, thường được gọi là bentonite. Trên thực tế, thành phần khoáng chất chính của bentonite là montmorillonite, với hàm lượng từ 85-90%. Một số đặc tính của bentonite cũng được quyết định bởi montmorillonite. Montmorillonite có thể xuất hiện với nhiều màu sắc khác nhau như vàng lục, vàng trắng, xám, trắng, v.v. Nó có thể tạo thành các khối đặc hoặc đất tơi xốp, có cảm giác trơn trượt khi xoa bằng ngón tay. Sau khi thêm nước, thể tích của các khối nhỏ nở ra gấp nhiều lần, từ 20-30 lần, xuất hiện ở trạng thái lơ lửng trong nước, và ở trạng thái sệt khi có ít nước. Các đặc tính của montmorillonite có liên quan đến thành phần hóa học và cấu trúc bên trong của nó.

Đất sét hoạt tính

Đất sét hoạt tính là chất hấp phụ được làm từ đất sét (chủ yếu là bentonit) làm nguyên liệu thô, trải qua quá trình xử lý axit hóa vô cơ, sau đó rửa sạch bằng nước và sấy khô. Nó có dạng bột màu trắng sữa, không mùi, không vị, không độc hại và có khả năng hấp phụ mạnh. Nó có thể hấp phụ các chất hữu cơ và chất tạo màu. Tuy nhiên, nó dễ hấp thụ độ ẩm trong không khí, và để quá lâu sẽ làm giảm khả năng hấp phụ. Ngoài ra, khi đun nóng đến trên 300 độ C, nó bắt đầu mất nước kết tinh, gây ra những thay đổi cấu trúc và ảnh hưởng đến hiệu quả tẩy màu. Đất sét hoạt tính không tan trong nước, dung môi hữu cơ và các loại dầu, gần như tan hoàn toàn trong xút ăn da nóng và axit clohydric, có mật độ tương đối từ 2,3-2,5 và độ trương nở tối thiểu trong nước và dầu.

Đất tẩy trắng tự nhiên

Loại đất sét trắng tự nhiên có đặc tính tẩy trắng vốn có là một loại đất sét trắng xám chủ yếu bao gồm montmorillonite, albite và thạch anh, và là một loại bentonite.
Chủ yếu là sản phẩm của sự phân hủy đá núi lửa thủy tinh, không nở ra sau khi hấp thụ nước, và giá trị pH của huyền phù khác với bentonit kiềm; khả năng tẩy trắng kém hơn đất sét hoạt tính. Màu sắc thường bao gồm vàng nhạt, trắng xanh, xám, màu ô liu, nâu, trắng sữa, đỏ đào, xanh lam, v.v. Rất ít loại màu trắng tinh khiết. Khối lượng riêng 2,7-2,9g/cm³. Khối lượng riêng biểu kiến ​​thường thấp do độ xốp cao. Thành phần hóa học tương tự như đất sét thông thường, với các thành phần hóa học chính là oxit nhôm, dioxit silic, nước và một lượng nhỏ sắt, magie, canxi, v.v. Không có tính dẻo, khả năng hấp phụ cao. Do hàm lượng axit silicic ngậm nước cao, nó có tính axit đối với giấy quỳ. Dễ bị nứt vỡ do nước và có hàm lượng nước cao. Nói chung, độ mịn càng cao thì khả năng tẩy màu càng tốt.

Quặng bentonit
Quặng bentonit là một loại khoáng sản có nhiều công dụng và chất lượng khác nhau.


Thời gian đăng bài: 24/08/2023